Tản mạn: THUỞ HÀN VI

    "Hàn vi" (寒微) là từ Hán-Việt được dùng để chỉ sự nghèo khổ thấp hèn. "Hàn" (寒) theo nghĩa danh ngữ là mùa rét, mùa lạnh và theo tính ngữ cũng mang nghĩa chỉ cái lạnh, nhưng đồng thời cũng có nghĩa nói về sự nghèo hèn, túng quẫn. "Vi" (微) có nhiều nghĩa, trong đó tính ngữ này cũng có ý nói về sự nhỏ nhoi, suy yếu, tàn tạ, thấp kém,... "Thuở hàn vi" là một cụm từ được sử dụng trong cách nói của một người khi nhìn về một quãng đường gian khó đã đi qua, giờ đây với những thành công nhất định của bản thân, họ nhìn về quá khứ vất vả và gọi đó là "thuở hàn vi." 

   Theo lối giải thích trên hẳn sẽ có những mâu thuẫn về ngữ nghĩa và thực tế. Thứ nhất, như thế nào là "thành công nhất định"?, thứ hai đâu là tiêu chuẩn/ mốc để một người ngoái nhìn và kể về quá khứ đầy khó khăn của họ? Phải chăng là: Giàu có? Tiền bạc? Địa vị xã hội? Trên thực tế, chắc chỉ những đại gia giàu có, những tỷ phú khi họ xây dựng đời mình từ nghèo khổ mới kể lại quá khứ đời mình theo cách ấy mà thôi. 

    Đó là chưa kể tới thái độ đón nhận "thuở hàn vi" của mỗi người. Kẻ thành công thì tự hào vì những gì họ đã vượt qua. Người thất bại thì muốn kể lại với một tâm trạng đau khổ, dằn vặt, nhục nhã hoặc thậm chí là gạt bỏ khỏi tâm trí những điều không tốt đẹp ấy.

    Vậy, những người bình dân không thành tựu nổi bật, đại đa số chúng ta có thể nói về "thuở hàn vi" của mình không? Liệu "thuở hàn vi" có là một điều đáng trân trọng hơn là chối bỏ? CÓ! THƯA HOÀN TOÀN CÓ THỂ! Bài viết xin mạo muội khơi lên chính điều này.



1. Thuở Hàn Vi không chỉ có nghĩa tiêu cực

    Không hề phủ nhận tính thực tế của quá khứ khó khăn và tác động của nó nơi mỗi người, nhưng nếu bảo rằng cái nghèo cái khổ toàn là đề tài tiêu cực thì chưa chắc! Con người vốn đủ sự khôn ngoan để hình tượng hóa và nhận diện những khát khao của họ từ một thực tế phũ phàng của đời mình. Nhiều khi người ta ca ngợi "thuở hàn vi" ấy còn là đàng khác. Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phác họa hạnh phúc của cái hàn vi mà ông đang có:
"Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao." 
(Nguyễn Bỉnh Khiêm, bài thơ Cảnh Nhàn)
    
Hoặc như Tản Đà khi nói lên nỗi vui của nhà nghèo, ông viết:
"Những ai bần bạc hàn vi
Lo buồn đã vậy, vui thì cũng vui." 
(Tản Đà, bài thơ Cảnh Vui Của Nhà Nghèo)

 

    Đã thế, người Việt Nam vẫn hay nhìn về "hàn vi" như một bài thuốc thử đắt giá vì quả thực trong gian nan thử thách họ nhận ra đâu là giá trị thực của đời mình hay tấm lòng của người quanh mình. Giả như có một Dương Lễ thành công thật ở ngoài đời, thì hẳn Lưu Bình là người đã thấm nỗi thất bại ê chề. Nhưng khi đứng ở vị thế đỗ đạt trạng nguyên, Lưu Bình nghiệm ra tất cả những gì Dương Lễ làm cho mình lúc thi trượt và mất tất cả hy vọng. Có thể nói chính cảnh "hàn vi" năm nào là động lực cho Dương Lễ giúp bạn mình, và ngược lại là động lực cho Lưu Bình miệt mài đèn sách để đạt thành khoa bảng. 

    Trong Kinh Thánh Cựu Ước, ông Mô-sê đã nhắc nhở dân Do Thái:
"Anh (em) phải nhớ lại tất cả con đường mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), đã dẫn anh (em) đi suốt bốn mươi năm nay trong sa mạc, để bắt anh (em) phải cùng cực ; như vậy Người thử thách anh (em) cho biết lòng dạ anh (em), xem anh (em) có giữ các mệnh lệnh của Người hay không [...] Suy nghĩ lại, anh (em) phải nhận biết rằng ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), giáo dục anh (em), như một người giáo dục con mình. Anh (em) phải giữ các mệnh lệnh của ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), mà đi theo đường lối của Người và kính sợ Người." (Đnl 8,1-6)
    Rõ ràng, dù xét về mặt chính trị, địa lý hoặc kinh tế thì Israel vẫn chưa đạt được thành tựu gì đáng để, nhưng qua biến cố vượt qua Biển Đỏ và bốn mươi năm sa mạc bình an, đỉnh cao thành tựu của họ là chính Thiên Chúa - Đấng ký kết giao ước, yêu thương và quan phòng trong cuộc đời họ.

    Hơn nữa, từ hành trình đào luyện của một con người luân lý đến con người đức tin, người Ki-tô Hữu cần phải có cái nhìn trưởng thành hơn về đoạn đường mình đã đi qua dù hiện tại mình vẫn chưa có thành công gì đáng kể. Có người bảo "năm nay cũng giống như năm trước, mà có điều... buồn hơn!". Vâng! Hoàn toàn hiểu được người ấy đang nghĩ gì, nhưng nếu nhìn trong chiều kích đức tin, bạn có nhận thấy:

+ Bạn dần lớn hơn trong niềm tin vào Thiên Chúa qua những gian nan thử thách? 
+ Bạn có nhận ra những điều Chúa làm cho bản thân và gia đình trong năm vừa qua? 
+ Bạn có thấy thành tựu lớn nhất đời bạn là có Chúa đồng hành cùng mình không?



2. Thuở hàn vi - quá khứ khó tìm lại được

    Một điều mà chúng ta đoan chắc với nhau, quá khứ là điều mà bạn chỉ có một lần trong đời dù bạn có muốn nhớ đến nó hay không. Có người ví von đó là "tấm vé không khứ hồi" và nó qua đi mãi mãi. Trong Tân Ước, người Do Thái dù trên danh nghĩa họ vẫn giữ truyền thống cha ông, nhưng Đức Giê-su đã vạch ra những điều mà họ cần hoán cải.
"Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình ! Các người xây mồ cho các ngôn sứ và tô mả cho những người công chính. Các người nói : ‘Nếu như chúng ta sống vào thời của tổ tiên, hẳn chúng ta đã không thông đồng với các ngài mà đổ máu các ngôn sứ.’ Như vậy, các người tự làm chứng rằng các người đúng là con cháu của những kẻ đã giết các ngôn sứ. Thì các người đổ thêm cho đầy đấu tội của tổ tiên các người đi!" (Mt 23, 29-32)

     Nỗ lực thực sự của Chúa Giê-su ở đây chính là mời gọi một cuộc hoán cải thực sự nơi những người mà Ngài gặp gỡ. Ở đây, Chúa Giê-su đã phác lên chính hành vi chối bỏ quá khứ của những người Pha-ri-sêu. Một đàng họ chê bai việc làm của tổ tiên, đồng thời xây lăng mộ cho các ngôn sứ như một hành vi bù đắp lỗi lầm. Nhưng một đàng tâm địa của những Pha-ri-sêu hoàn toàn tệ hơn với tổ tiên họ, thậm chí Chúa Giê-su dùng hình ảnh "mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế" (Mt 23, 27b) để nói về họ.

    Tuy nhiên, suy nghĩ theo mạch bài viết, có lẽ Chúa Giê-su muốn họ quay lại với "thuở hàn vi" của chính tổ tiên, cái thuở nô lệ vất vả nơi Ai Cập, cái thuở được giải thoát và vượt Biển Đỏ, cái thuở lang thang bốn mươi năm trong sa mạc, cái thuở của phản bội - hoán cải -yêu thương,... Có lẽ sách Ê-dê-ki-en đã diễn tả quá đúng về thuở hàn vi của Israen:

"Lúc chào đời, ngày mới sinh ra, ngươi không được ai cắt rốn cũng không ai lấy nước tắm rửa cho sạch, chẳng được ai xát muối và lấy tã bọc cho. Không người nào ái ngại đưa mắt nhìn ngươi mà làm cho ngươi chỉ một trong những điều ấy vì xót thương ngươi. Ngày mới sinh ra, ngươi bị quẳng ra giữa đồng u vì ai cũng ghê tởm ngươi. Ta đi ngang qua chỗ ngươi và thấy ngươi giãy giụa trong máu. Thấy ngươi mình đầy máu me, Ta đã phán với ngươi : “Cứ việc sống !”" (Ed 16,4-6).

    Mô-sê trong Đệ Nhị Luật đã nhắn lại tất cả, để nhủ dân về tình yêu và Thánh Ý của Thiên Chúa, thuở lòng dân còn gần gũi Thiên Chúa, thuở tương quan giữa dân và Chúa luôn "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu." Trong khi hiện tại, Chúa Giê-su phải thốt lên: 

"Những kẻ đạo đức giả kia, ngôn sứ I-sai-a thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông rằng: Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân." (Mt 15,7-9)

    Có lẽ khao khát của Chúa Giê-su vẫn là khao khát dân Ngài hoán cải, ít là cho tới khi Ngài chịu chết trên Thánh Giá vì sự bất ưng của những kẻ "giả hình" như thế. Nhưng ngẫm lại, đây lại là một yêu cầu không dễ thực hiện bởi phần vì "thuở hàn vi" ấy đã qua đi, chỉ còn tinh thần ở lại trong khả năng hạn hẹp của con người, và thói đời "tam sao thất bản" dễ làm tinh thần ấy ra biến chất hoặc hư hoại. 

    Tuy nhiên, hy vọng của chúng ta chính là Thiên Chúa, như Thánh Vịnh Gia đã viết: 
"Ẩn thân bên cạnh CHÚA TRỜI,
thì hơn tin cậy ở người trần gian. 
Cậy vào thần thế vua quan
chẳng bằng ẩn náu ở bên CHÚA TRỜI." (Tv 118,8-9)
    Hoặc như khẳng định của sách Châm Ngôn: "Hãy hết lòng tin tưởng vào ĐỨC CHÚA, chớ hề cậy dựa vào hiểu biết của con" (Cn 3,5); hoặc khẳng định của thánh Phê-rô và các tông đồ: "Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm" (Cv 5,29). 

    Thật vậy, Thiên Chúa không chỉ là quá khứ mà ta phải lục tìm trong trí nhớ, Ngài còn là hiện tại và là tương lai của mỗi người chúng ta. "Thuở hàn vi" của riêng mỗi người mà được nhìn trong cái phúc ấy thì còn gì hơn. 



3. Hôm nay - thuở hàn vi của ngày mai

    Ghi dấu cho một quá khứ tươi đẹp, là một hiện tại viên mãn NGAY HÔM NAY, NGAY LÚC NÀY. Đành rằng kiếp người bị xoay vần bởi những ám ảnh khó khăn trong quá khứ, thậm chí là thách đố ở hiện tại, và chưa chắc tương lai sẽ thoát khó khăn, nhưng thử đặt ra giả định:

+ Nếu ta không đem được khu rừng rời xa con hổ, thì cớ sao không dùng kế "điệu hổ ly sơn"; 
+ Nếu ta không xây được một ngôi nhà cho người cơ nhỡ, cớ sao không dẫn họ đến một căn nhà tình thương để họ sống với mọi người. 

    Tôi viết những suy tư này trong lúc thời khắc một năm âm lịch 2025 sắp qua đi, khi chợt nhìn lại thì nhận ra nhiều người thân yêu đã qua đi, nhiều biến cố đã qua đi... Vui có mà buồn cũng không thiếu, nhưng liệu tôi có còn trân quý những điều ấy, vì không có gì là tình cờ, chẳng có gì là vô nghĩa.

    Giờ đây, tất cả trở thành cái "thuở hàn vi," trở thành động lực sống, trở thành phần máu thịt của chính con người tôi. Một vài khuôn mặt trong bức hình kỷ niệm đã không còn cơ hội để tôi gặp lại, nhưng chính họ hiện diện trong tính cách, cung cách hành xử và cả lối suy nghĩ của tôi, để hôm nay tôi sẽ tiếp tục sống... và tôi sẽ là cái "thuở hàn vi" đáng nhớ và tích cực cho những thế hệ tương lai. 

    Chợt thấy mấy câu thơ của Tản Đà thâm thúy quá:

"Cũng chẳng kể thành danh lúc khác
Trời đã cho bước bước càng hay
Nghèo mà học được như nay
Vinh hoa chưa dễ sánh tày cái vui

Trong trần thế nhiều nơi phú quí
Nỗi buồn riêng ai ví như ai
Bày ra cái cảnh có trời
Vui buồn cũng ở tự người thế gian."
(Tản Đà, bài thơ Cảnh Vui Của Nhà Nghèo)

    Biết ơn tất cả...
    Tiến bước trong hy vọng và ân sủng...
    Chúc mừng Năm mới 2026! 










Toronto, Feb 15,2026
Tác giả và Ảnh: Little Stream

Nhận xét

BÀI ĐĂNG ĐƯỢC XEM NHIỀU